Thứ Hai, 11 tháng 11, 2019

Kết hợp liệu pháp tâm lý điều trị trầm cảm ở thanh thiếu niên

Trong khi nản, con trẻ và thanh thiếu niên có xu hướng tụt hậu xa về mặt học thuật và mất đi các mối quan hệ bạn bè quan trọng. Như ở người lớn căn nguyên trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên không được rõ; Nó được cho là kết quả từ các nguyên tố di truyền và những bao tay về môi trường, áp lực học tập và những thiếu thốn, mất mát trong cuộc sống.

Các tả căn bản

Dấu hiệu nhận biết của chứng rối loạn trầm cảm ở trẻ nít và thanh thiếu niên hao hao như ở người lớn nhưng có liên hệ đến những mối quan tâm tiêu biểu của trẻ, chả hạn như học tập và vui chơi. con trẻ có thể không giải thích được cảm xúc bên trong hoặc tâm trạng. Trầm cảm nên được coi xét khi những đứa trẻ hoạt động kém đi so với trước đó, không hòa nhập cộng đồng, rút khỏi xã hội, hoặc có hành vi phi pháp.

Ở một số trẻ có rối loạn trầm cảm, tâm trạng trổi là khó chịu như là cáu gắt bực bội, kíchthích, khai hấn hơn là nỗi buồn (một sự khác biệt quan yếu giữa tuổi thơ và người lớn). Sự khó chịu can dự đến trầm cảm ở con nít có thể mô tả như là hành vi hiếu chiến và bất hiệp tác...

Ở trẻ khuyết tật trí não, chứng rối loạn tâm trạng trầm cảm hoặc rối loạn tâm cảnh khác có thể biểu hiện như các triệu chứng của các bệnh thân và rối loạn hành vi.

Lứa tuổi thanh thiếu niên dễ mắc các rối loạn trầm cảm

Lứa tuổi thanh thiếu niên dễ mắc các rối loạn trầm cảm

Các rối loạn trầm cảm ở trẻ con và thanh thiếu niên

Các rối loạn trầm cảm ở trẻ thơ và thanh thiếu niên bao gồm: rối loạn trầm cảm hổ lốn; rối loạn trầm cảm cốt tử; rối loạn thần sắc.

Rối loạn tâm trạng hẩu lốn: Rối loạn tâm cảnh là rối loạn hệ trọng đến sự khó chịu liên tục và các giai đoạn thường xuyên của hành vi đó là rất khó kiểm soát, với sự khởi đầu ở tuổi 6-10. Nhiều trẻ thơ cũng có những rối loạn khác, đặc biệt là chống đối, phản đối, hiếu động thái quá, tăng động giảm để ý, hoặc rối loạn lo lắng. Các mô tả bao gồm các cơn kích thích liền nghiêm trọng (ví dụ như giận dữ hoặc gây thương tổn đối với những người xung quanh...) có tần suất cao hơn 3 lần/tuần; sự bùng nổ không phù hợp với hoàn cảnh; thể cáu kỉnh, tức giận hiện diện hằng ngày.

Rối loạn trầm cảm chủ yếu là một trầm cảm kéo dài hơn 2 tuần. Rối loạn trầm cảm cốt yếu lần đầu tiên có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến hơn là sau tuổi dậy thì với một số biểu lộ: cảm thấy buồn hoặc người khác quan sát thấy nỗi buồn (tỉ dụ như nước mắt) hoặc khó chịu; mất quan hoài hoặc huých trong hồ hết các hoạt động (thường được miêu tả như là nản); giảm cân (không tăng cân như dự định); giảm hoặc tăng cảm giác thèm ăn; mất ngủ hoặc chứng đau nửa đầu; sự kích động hoặc chậm phát triển tâm thần; mệt mỏi hoặc mất năng lượng; giảm khả năng suy nghĩ, tụ tập và tuyển lựa; những suy nghĩ liên tục về cái chết (không chỉ sợ chết) hoặc ý tưởng hay kế hoạch trầm mình; cảm giác vô dụng (nghĩa là cảm thấy bị chối từ và không được xót thương)...

Nguy cơ tái phát cao ở những trẻ có tuổi trầm cảm nặng, có nhiều giai đoạn trầm cảm.

Rối loạn thần sắc: Chứng ù tai là trạng thái trầm cảm hoặc tức giận dai dẳng kéo dài trong thời kì dài trong đó có một số diễn tả như: chán ăn hoặc ăn quá nhiều; mất ngủ hoặc chứng đau nửa đầu; giảm năng lượng hoặc mỏi mệt; kém giao hội; cảm giác tuyệt vọng; dễ bị lạm dụng... So với các rối loạn trầm cảm đẵn, các triệu chứng có thể ít hơn. thời kì kéo dài nhàng nhàng 5 năm. Một thời đoạn trầm cảm lớn có thể xảy ra trước khi khởi phát hoặc trong năm trước hết.

Các biện pháp tâm lý và tái khám định kỳ

Đối với thanh thiếu niên việc điều trị sẽ mang lại hiệu quả cao hơn khi phối hợp liệu pháp tâm lý và thuốc chống trầm cảm. Có thể cần phải nhập viện trong các thời đoạn cấp tính, đặc biệt khi xác định có ý tưởng và hành vi trầm mình. Tác dụng ngoại ý do độc tính, có thể xảy ra khi dùng thuốc chống trầm cảm trong quá trình điều trị. Do đó, trẻ em và thanh thiếu niên uống các loại thuốc này phải được theo dõi chém đẹp. Các biện pháp song song dựa vào gia đình và nhà trường. Cần phải coi xét cẩn thận về bệnh sử và các xét nghiệm phù hợp để loại trừ các rối loạn khác (tỉ dụ như bệnh truyền nhiễm, bệnh tuyến giáp, lạm dụng ma túy) có thể gây ra các triệu chứng na ná. trẻ em và thanh thiếu niên nên được điều trị trong chí ít 1 năm sau khi các triệu chứng đã giảm dần và hết hẳn. hồ hết các chuyên gia khuyến cáo rằng trẻ thơ có trên 2 tuổi trầm cảm cần điều trị lâu dài. Cũng như ở người lớn, tái phát trầm cảm là phổ quát. bởi thế việc trị liệu tâm lý và tái khám định kỳ theo kế hoạch điều trị của bác sĩ rất quan yếu.

PGS.TS. Cao Tiến Đức

0 nhận xét:

Đăng nhận xét